Trên cây mắm có nhiều dịch hại gây hại,trong đó sâu ăn lá là đối tượng xuất hiện phổ biến nhất, vào mùa khô năm 2022 đã xuất hiện gây hại cây mắm tại rừng phòng hộ thuộc huyện An Minh. Ấu trùng cắn phá lá mắm và ăn từ rìa lá vào trong, diện tích lá bị hại lên đến 90-100%, mật số cao sâu ăn trụi lá trên cây, trong khoảng thời gian từ 2-3 tháng. Qua các đợt dịch sâu ăn lá, làm cho cây mắm bị giảm sút về tăng trưởng, nặng sẽ chết cây. Vì rừng trồng trong vùng ven biển rất nhạy cảm với môi trường nên việc sử dụng thuốc trừ sâu để tiêu diệt sâu sẽ ảnh hưởng đến thủy sản. Sự xuất hiện gây hại của loài sâu ăn lá này đã làm ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng cây mắm, để góp phần quản lý tốt loài sâu này hạn chế sự ảnh hưởng của nó đến sự sinh trưởng và phát triển của cây mắm, bài báo xin cung cấp một số thông tin kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học và biện pháp phòng trừ loài sâu này theo hướng an toàn, hiệu quả:
Mức độ gây hại: Loài sâu này gây hại với nhiều cá thể sâu tập trung từng cây, qua kết quả điều tra ghi nhận được tỷ lệ gây hại của loài sâu này từ 10-30%, tuy nhiên tỷ lệ cây bị chết chỉ chiếm khoảng 10% trong số cây bị gây hại. Bên cạnh đó, còn ghi nhận thêm số cây mắm bị chết là do bị sâu ăn hết lá làm khô lá nếu gặp thời tiết nắng nóng kéo dài dễ cây chết cây, có mưa cây có khả năng phục hồi ra lá mới (Hình 1).

* Một số đặc điểm sinh học của loài Hyblaea puera Cramer:
Dựa vào hình thái của trưởng thành theo các khóa phân loại họ Crambidae (Lepidoptera) và các mô tả về giống Nacoleia của Inoue et al. (1982), Kim et al. (2014) và Franzmann and Garrett (1978) đã xác định sâu ăn lá mắm là loài Hyblaea puera Cramer thuộc họ Noctuidae, bộ cánh Vảy (Lepidoptera).
Vòng đời của sâu Hyblaea puera Cramerhoàn thành trong vòng 19 đến 29 ngày, gồm các giai đoạn (Hình 2):
Thành trùng: Bướm có kích thước nhỏ, sải cánh từ 3 đến 4cm. Cánh trước có màu nâu xám và cánh sau có các mảng màu đen và vàng cam (Hình 3).

Trứng: Chúng có hình bầu dục, phẳng, màu trắng và dài khoảng 1 mm., nằm đơn lẻ gần các gân ở mặt dưới của lá. Một con bướm cái đẻ khoảng 400-450 trứng trên lá. Thời gian trứng từ 2-3 ngày.
Ấu trùng: ấu trùng có 5 tuổi, ấu trùng trưởng thành có kích thước khoảng 3,5–4,5 cm và có sự thay đổi màu sắc đáng kể ở tuổi 4 và 5. Ấu trùng tuổi 1 có màu vàng lục đầu màu đen, có rất ít lông trên khắp cơ thể. Ấu trùng chậm chạp, thời gian của tuổi 1 từ 2 đến 4 ngày. Ấu trùng tuổi 2 có màu xanh đậm hơn tuổi 1,có lông rải rác khắp cơ thể và đầu màu đen. Thời gian ấu trùng ở tuổi 2 dao động từ 2 đến 3 ngày. Ấu trùng tuổi thứ ba có màu xanh nhạt đến xám với đầu màu đen, có lông rải rác khắp cơ thể, thời gian từ 2 đến 3 ngày. Ấu trùng tuổi 4 có màu xám tím và mặt sau màu xanh xám với đầu màu đen. Cơ thể có rất ít lông ngắn, thời gian tuổi 4 từ 2 đến 3 ngày. Ấu trùng trưởng thành (tuổi 5) có thân hình mập mạp, gần như màu đen với các đường dọc mờ hoặc màu đen với một dải màu cam ở mặt lưng rộng và mặt bên các đường trắng và đen dọc, thời gian ấu trùng tuổi 5 từ 3 đến 5 ngày (Hình 4). Giai đoạn ấu trùng kéo dài từ 11 đến 18 ngày.

Ấu trùng tuổi 1 và 2 chủ yếu ăn trên bề mặt lá. Bắt đầu từ tuổi 3, ấu trùng cắt một vạt lá, thường ở mép lá, gấp lại, dùng tơ buộc chặt và ăn từ bên trong. Toàn bộ lá, ngoại trừ các gân chính của lá non mềm, bị ăn hết, nhưng các lá già sẽ để lại nhiều gân hơn (Hình 5). Chúng tạo ra nơi trú ẩn bằng cách gấp một phần của chiếc lá và nhả tơ. Ấu trùng rút lui khỏi nguy hiểm bằng cách chui qua một cái lỗ sang phía bên kia của chiếc lá hoặc bằng cách thả sợi tơ và nhảy xuống (Hình 5).

Nhộng: Ấu trùng hình thành cái kén mỏng màu trắng trong lá hình tam giác gấp theo các lá liền nhau.Sau đó, ấu trùng trở thành lần lột xác cuối cùng và hóa nhộng. Màu sắc của nhộng trước nhạt hơi vàng.Giai đoạn nhộng trung bình kéo dài từ 6 - 8 ngày (Hình 6).

* Đề xuất biện pháp quản lý: kết quả thí nghiệm được thực hiện trong năm 2023 ghi nhận được tỷ lệ sâu chết đạt 61-65% sau khi phun chế phẩm sinh họccó chứa các chủng vi sinh như: Aspergillus oryzae, Bacillus thuringiensis, Bacillus sphaericus, Isaria sp, Nấm xanh (Metarhizium anisopliae), Nấm trắng (Beauveria sp.) Nomuraea rileyi, Paecilomyces fumosoroseus, Pseudomonas aureofaciens, Verticillium lecanii(Hình 7). Qua kết quả đócho thấy rằngcó thể sử dụng 1 trong các chế phẩm sinh học có chứa các chủng vi sinh nêu trên (các chế phẩm này đã có bán trên thị trường và dễ mua được để sử dụng) để phòng trừ sâu ăn lá mắm khi chúng xuất hiện gây hại, bên cạnh đó có thể đưa việc sử dụng chế phẩm này vào quy trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây rừng để hỗ trợ tăng hiệu quả quản lý, thân thiện môi trường, cân bằng hệ sinh thái.

Trên đây là một số thông tin cơ bản về đặc điểm sinh học sâu ăn lá mắm và biện pháp quản lý theo hướng an toàn, thân thiện môi trường./.