Đánh giá tác động, hiệu quả ban đầu của hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé và định hướng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Ngày 14/02/2023, UBND tỉnh Kiên Giang tổ chức cuộc họp nghe Sở Nông nghiệp và PTNT báo cáo đánh giá tác động của hệ thống thuỷ lợi Cái Lớn - Cái Bé và kế hoạch điều chỉnh sản xuất nông nghiệp. Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Minh Thành chủ trì cuộc họp, cùng dự có Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Quốc Anh, các Sở, ngành có liên quan, các địa phương trong vùng hưởng lợi của Dự án và Công ty TNHH MTV Khai thác Thủy lợi Miền Nam.

Ảnh: Toàn cảnh cuộc họp

Dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé gồm có các công trình chính: cống Cái Lớn; cống Cái Bé; cống Xẻo Rô; Đê nối cống Cái Lớn, cống Cái Bé với Quốc lộ 61; 08 cống hở dọc tuyến đê biển An Biên - An Minh; Hệ thống quan trắc, giám sát tự động; Hợp phần mô hình sinh kế và các hoạt động phi công trình trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang. Vùng hưởng lợi của hệ thống công trình thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé có diện tích tự nhiên là 384.120 ha, thuộc địa bàn 05 tỉnh: Kiên Giang, Hậu Giang, Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng. Trong đó, Kiên Giang có 7/15 huyện (Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận và U Minh Thượng) thuộc vùng Dự án với diện tích 247.432 ha/384.120 ha, chiếm 64,1% diện tích 05 tỉnh thuộc vùng Dự án.

Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé có 4 nhiệm vụ: (1) Kiểm soát nguồn nước (mặn, lợ, ngọt), tạo điều kiện sản xuất ổn định, bền vững đối với các mô hình sản xuất theo hệ sinh thái (ngọt, mặn – lợ, ngọt – lợ luân phiên) cho vùng hưởng lợi 384.120ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp, thủy sản là 346.241ha. (2) Kết hợp với tuyến đê biển Tây tạo thành cụm công trình chủ động ứng phó với BĐKH, nước biển dâng, phòng chống thiên tai, giảm ngập úng khi mặt đất hạ thấp (do lún sụt đất); Giảm thiệt hại do thiên tai (hạn, mặn) vào mùa khô cho các mô hình sản xuất trong vùng. (3) Góp phần cấp nước ngọt trong mùa mưa cho vùng sản xuất mặn, ngọt huyện An Minh, An Biên với những năm mưa ít; và tiêu thoát cho vùng hưởng lợi của dự án trong điều kiện BĐKH, nước biển dâng. (4) Kết hợp phát triển hạ tầng giao thông bộ, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực.

Sau khi đưa vào vận hành cống Cái Bé (02/2021), cống Cái Lớn và Xẻo Rô (tháng 8/2021) kết hợp với các cống ven biển An Biên, An Minh và các cống ven sông Cái Lớn, Cái Bé để điều tiết nguồn nước đã cơ bản đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ của dự án (đảm bảo ổn định nguồn nước, phục vụ tốt cho các mô hình sản xuất theo hệ sinh thái ngọt, ngọt - lợ luân phiên, mặn - lợ).

Ông Lê Hữu Toàn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Kiên Giang cho biết: Qua theo dõi thực tế tình hình sản xuất trong vùng dự án trên địa bàn tỉnh cho thấy thời vụ sản xuất của các địa phương trong vùng dự án từ khi vận hành hệ thống cống đến nay vẫn ổn định, chưa thay đổi nhiều so với trước. Chưa ghi nhận có sự thay đổi đáng kể về cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong khu vực vùng dự án.

Trong năm 2022, tổng diện tích trồng lúa của 07 huyện thuộc Dự án là 311.436 ha, chiếm 44,51% tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh (699.699 ha), sản lượng lúa thu hoạch được 1.921.447 tấn, chiếm 43,62% tổng sản lượng lúa toàn tỉnh (4.405.404 tấn); tổng lượt diện tích nuôi trồng thủy sản là 265.309 ha, chiếm 90,36% tổng lượt diện tích thả nuôi toàn tỉnh (293.625 ha), sản lượng thu hoạch được 223.417 tấn thủy sản nuôi các loại, chiếm 69,71% tổng sản lượng thủy sản nuôi toàn tỉnh (320.477 tấn). Trong đó, lượt diện tích thả nuôi tôm các loại là 125.712 ha, sản lượng thu hoạch được 67.050 tấn, chiếm 60,08% tổng sản lượng tôm nuôi toàn tỉnh (111.600 tấn).

Dự báo xâm nhập mặn mùa khô 2022-2023 sẽ đến sớm và có thể có diễn biến bất thường do vận hành thủy điện làm ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân vùng ven biển vùng ĐBSCL.Tuy nhiên, ở mức ít nghiêm trọng hơn so với ở năm hạn lịch sử 2019-2020.

Phát biểu tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Minh Thành đánh giá, Dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé có quy mô rất lớn, có tác động liên tỉnh với vùng sản xuất lúa gạo, thủy sản và cây ăn trái. Qua thực tế vận hành, đã mang lại hiệu quả rất lớn, bảo vệ sản xuất hiệu quả, giảm chi phí so với trước đây do không phải đắp đập tạm. Tuy nhiên, do vận hành đáp ứng đa mục tiêu ngọt, mặn, lợ nên cũng gặp những khó khăn nhất định. Phát sinh việc ngập cục bộ vùng hạ lưu do hạ tầng chưa đáp ứng được, hệ thống cống trong vùng hưởng lợi chưa được đầu tư đầy đủ, đồng bộ, khép kín.

Để phát huy hiệu quả công trình, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Minh Thành giao Sở Kế hoạch - Đầu tư cân đối, chủ động nguồn lực địa phương, đầu tư các công trình đảm bảo khép kín để đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất. Riêng đối với một số công trình đã đầu tư xong nhưng không có điện vận hành cần phải sớm khắc phục, kéo điện lưới quốc gia để vận hành.

Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Minh Thành cũng đề nghị đơn vị khai thác cần sớm có quy chế phối hợp vận hành, thông báo lịch vận hành để các địa phương trong vùng nắm và chủ động phương án sản xuất. Ngành nông nghiệp và các địa phương tiếp tục theo dõi, thực hiện các hợp phần sinh kế, mang lại hiệu quả trong sản xuất đối với vùng hưởng lợi của dự án./.