Hội nghị tổng kết ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2024 và triển khai phương hướng nhiệm vụ năm 2025

Chiều 09/01/2025, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang tổ chức Hội nghị tổng kết ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2024 và triển khai phương hướng nhiệm vụ năm 2025.

Hình: Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Lê Hữu Toàn phát biểu khai mạc Hội nghị

Năm 2024, mặc dù còn nhiều khó khăn do tác động bất lợi của hiện tượng El Nino làm nhiệt độ tăng cao, nắng nóng kéo dài, thiếu nước ngọt đầu nguồn gây hạn hán, xâm nhập mặn cục bộ một vài nơi; giá cả nguyên, nhiên liệu đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp như xăng dầu, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, … vẫn ở mức cao đã ảnh làm ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất các tháng đầu năm.

Với sự chỉ đạo sát sao và điều hành uyển chuyển của Ban Giám đốc sở, sự quyết tâm của toàn ngành Nông nghiệp cùng với chính quyền địa phương và bà con nông dân đã đạt được một số kết quả nổi bật và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ năm 2024, cụ thể:

Tốc độ tăng giá trị sản xuất Nông - Lâm - Thủy sản đạt 4,06% vượt kế hoạch (kế hoạch phấn đấu 2%), trong đó:

(1) Sản lượng lúa đạt trên 4,714 triệu tấn vượt 7,57% kế hoạch. Tỷ lệ sản xuất lúa chất lượng cao đạt 93,46% tổng diện tích gieo trồng (kế hoạch phấn đấu 90% tổng diện tích gieo trồng);

(2) Tổng sản phẩm khai thác và nuôi trồng thủy sản đạt 814.991 tấn vượt 1,87% kế hoạch;

(3) Có thêm 06 xã đạt chuẩn nông thôn mới (vượt 01 xã); 17 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao (vược 05 xã); 04 xã nông thôn mới kiểu mẫu (vượt 01 xã);

(4) Có thêm 02 huyện hoàn thành hồ sơ trình Hội đồng Trung ương thẩm định huyện nông thôn mới;

(5) Tỷ lệ cư dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt 64,6%;

(6) Tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh đạt 11,72%.

- Sản xuất lúa đạt sản lượng và chất lượng cao nhất từ trước đến nay:

Năm 2024, toàn tỉnh đã gieo trồng được 725.680 ha/700.000 ha, đạt 103,67% kế hoạch và tăng 1,80% so cùng kỳ năm 2023 (712.856 ha), tỷ lệ gieo trồng lúa có chất lượng gạo cao đạt 93,46% (678.231 ha/725.680 ha). Thu hoạch dứt điểm 725.680 ha, sản lượng đạt 4.714.573 tấn/4,4 triệu tấn, tăng 7,57% kế hoạch và tăng 4,55% so năm 2023 (4.561.857 tấn), năng suất thu hoạch bình quân đạt 6,50 tấn/ha (tăng 0,10 tấn/ha so với năm 2023 - 6,40 tấn/ha). Tổ chức sản xuất cánh đồng lớn được 767 cánh đồng với diện tích 116.499,5 ha, trong đó có 405 cánh đồng lớn gắn với liên kết tiêu thụ với diện tích 73.537,6 ha.

  

Hình: Thu hoạch lúa Đông Xuân 2024

Phục vụ nhu cầu xuất khẩu nông sản sang các thị trường EU, Japan, Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Canada, ... năm 2024, đã cấp 123 Mã số vùng trồng (MSVT), gồm: lúa 118 mã số, tiêu 01 mã số, sầu riêng 01 mã số, khoai lang 01 mã số, khóm 01 mã số và dừa 01 mã số. Lũy kế từ năm 2022 đến nay, tồng số MSVT trong tỉnh là 526 mã số với tổng diện tích được cấp MSVT là 17.708,56 ha cho 15 loại cây trồng (gồm: cây Lúa, Khoai lang, cây Xoài, cây Khóm, cây Mít, cây Chuối, cây Dừa, cây Sầu riêng, cây Bưởi, cây Khoai môn, cây Măng cụt, cây Gừng, cây Sim, cây Tiêu và cây Dưa lê).

- Chăn nuôi ổn định, từng bước phát triển theo hướng chăn nuôi bền vững: đến ngày 01/10/2024, đàn trâu có 3.826 con, đàn bò có 9.628 con, đàn lợn có 265.275 con, và đàn gia cầm 5.677,50 nghìn con. Nhìn chung, tổng đàn chăn nuôi khá ổn định, trong đó đàn lợn từng bước phát triển và tăng gần 30.000 con so với cùng kỳ năm 2023.

  

  

Hình: Chăn nuôi quy mô trang trại ở huyện Giồng Riềng và Giang Thành

- Khai thác và nuôi trồng thủy sản chuyển dịch đúng định hướng giảm dần cường lực khai thác tự nhiên, tăng dần sản lượng nuôi trồng: với tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản năm 2024 được 814.991 tấn/800.000 tấn, vượt 1,87% so kế hoạch và tăng 2,09% so năm 2023 (cùng kỳ 798.309 tấn - chủ yếu tăng sản lượng thủy sản nuôi). Trong đó: sản lượng khai thác được 430.821 tấn/435.000 tấn thủy sản các loại, đạt 99,04% so kế hoạch và bằng 98,54% so cùng kỳ (tương đương giảm 6.361 tấn); tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch được 384.170 tấn tăng 5,25% so kế hoạch và tăng 6,38% so cùng kỳ (tương đương tăng 23.050 tấn); trong đó: tôm nuôi nước lợ 133.181 tấn tăng 2,45% so kế hoạch và tăng 10,07% so cùng kỳ (tương đương tăng 12.181 tấn); cua 28.508 tấn tăng 9,65% so kế hoạch và tăng 7,70% so cùng kỳ; sản lượng cá lồng 4.241 tấn đạt 96,39% kế hoạch và tăng 8,47% so cùng kỳ; cá loại và thủy sản khác 123.230 tấn tăng 11,02% so kế hoạch và tăng 8,66% so cùng kỳ.

  

Hình: Khai thác và nuôi tôm công nghiệp

- Xây dựng nông thôn mới (NTM) và phát triển sản phẩm OCOP được nhân dân tích trên địa bàn tỉnh cực ủng hộ đã góp phần hoàn thành đạt và vượt kế hoạch

Xã nông thôn mới: có thêm 6/6 xã được công nhận xã NTM, lũy kế toàn tỉnh có 116/116 xã đạt chuẩn NTM đạt 100% kế hoạch năm và hoàn thành nhiệm vụ giai đoạn 2021-2025. Có thêm 17/12 xã được công nhận xã NTM nâng cao đạt 133% kế hoạch năm, lũy kế toàn tỉnh có 35/30 xã được công nhận đạt chuẩn NTM nâng cao, đạt 116,66% kế hoạch giai đoạn 2021-2025. Có 4/3 xã được công nhận xã NTM kiểu mẫu, đạt 133% kế hoạch năm và đạt 26,66% kế hoạch giai đoạn 2021-2025.

c  

Hình: Lễ Công bố xã đạt chuẩn nông thôn mới

Huyện nông thôn mới: đến cuối năm 2024, toàn tỉnh có 7 huyện, thành phố gồm huyện Tân Hiệp, Giồng Riềng, Gò Quao, Vĩnh Thuận, thành phố Hà Tiên, An Biên, Kiên Lương đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; đã tổ chức thẩm tra và hoàn thiện hồ sơ 2 huyện An Minh và Kiên Hải gửi Văn phòng Điều phối Trung ương thẩm định, đạt 100% kế hoạch năm và kế hoạch giai đoạn 2021-2025.

  

Hình: Lễ Công bố huyện đạt chuẩn nông thôn mới

Trong năm 2024, công nhận 120 sản phẩm OCOP (trong đó: 91 sản phẩm công nhận mới và 29 sản phẩm đánh giá lại), gồm: 04 sản phẩm tiềm năng đề nghị trưng ương công nhận 5 sao quốc gia; 09 sản phẩm đạt hạng 4 sao (có 05 sản phẩm 4 sao công nhận mới, 03 sản phẩm 04 sao công nhận lại, 01 sản phẩm 4 sao nâng hạng từ 3 sao); 107 sản phẩm đạt hạng 3 sao (gồm: 86 sản phẩm công nhận mới, 21 sản phẩm công nhận lại). Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 348 sản phẩm OCOP (6 sản phẩm 05 sao quốc gia, 41 sản phẩm 4 sao (có 4 sản phẩm tiềm năm 5 sao), 301 sản phẩm 3 sao của 181 chủ thể: 45 doanh nghiệp, 29 hợp tác xã, 107 hộ kinh doanh.

- Chương trình nước sạch nông thôn với mục tiêu đảm bảo người dân nông thôn được tiếp cận sử dụng dịch vụ cấp nước sạch công bằng, thuận lợi, an toàn với chi phí hợp lý: trong năm, tiếp tục đầu tư nâng cấp đường ống cấp nước đến hộ gia đình sau tuyến ống chính dự án công trình trữ nước và hệ thống cấp nước sinh hoạt tại các vùng khan hiếm nước, vùng bị ảnh hưởng xâm nhập mặn; đồng thời nâng cấp mở rộng các các Trạm cấp nước. Đến nay, tổng số Trạm cấp nước, hồ nước đơn vị chuyên môn thuộc sở đang quản lý là 57 trạm và 4 hồ chứa nước (Hồ nước Dương Đông, hồ nước An Sơn, hồ Bãi Nhà và Bãi Cây Mến), góp phần nâng tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch chiếm 64,60%, đạt 100% kế hoạch năm.

- Quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững rừng và diện tích đất được quy hoạch cho lâm nghiệp, từng bước cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ môi trường rừng, tạo việc làm và thu nhập cho người dân: đến nay, diện tích rừng và đất lâm nghiệp của tỉnh hiện nay là 82.652 ha, trong đó: rừng đặc dụng 39.808 ha; rừng phòng hộ 31.457 ha; rừng sản xuất 11.387 ha. Trong năm tổng diện tích rừng trồng được 1.580,90 ha (trong đó: 135 ha rừng đặc dụng; 160 ha rừng thay thề và 1.285,9 ha rừng sản xuất); khoán bảo vệ rừng 10.038,4 ha và trồng cây phân tán được 5.931 nghìn cây. Công tác phòng cháy chữa cháy rừng, công tác tuyên truyền, công tác tuần tra bảo vệ rừng được các ngành, các cấp quan tâm phối hợp chỉ đạo nên tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh năm 2024 đạt 11,72% đạt 107,09% kế hoạch.

 

 

Hình: Tuần tra bảo vệ rừng

          Trên cơ sở kết quả đạt được năm 2024, ngành Nông nghiệp triển khai nhiệm vụ năm 2025 với các chỉ tiêu phấn đấu như sau:

- Tỷ trọng Nông - lâm - thủy sản chiếm 33,27% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.

- Tốc độ tăng giá trị sản xuất Nông - lâm - thủy sản 2,5% trở lên, trong đó:

(1) Sản lượng lúa đạt 4.600.000 tấn. Tỷ lệ sản xuất lúa chất lượng cao duy trì trên 90% tổng diện tích gieo trồng.

(2) Sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản đạt 811.000 tấn, trong đó sản lượng khai thác 420.300 tấn, sản lượng nuôi trồng 390.700 tấn.

(3) Tỷ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt 65,0%.

(4) Có thêm 10 xã đạt chuẩn NTM nâng cao; có 11 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu.

(5) Phấn đấu thêm 01 huyện đạt chuẩn NTM.

(6) Tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh duy trì 11,50%.