Hướng dẫn chăm sóc lúa vụ Mùa 2023 - 2024 địa bàn huyện An Minh

Lúa vụ Mùa là một trong bốn vụ lúa chính tại Kiên Giang và được nông dân quan tâm chăm sóc để đảm bảo đạt năng suất. Trong đó, huyện An Minh diện tích kế hoạch sản xuất lúa Mùa năm 2023-2024 là 27.000 ha, đến nay đã gieo cấy được 9.919 ha (đạt 36,7% kế hoạch), lúa đang tập trung ở giai đoạn mạ. Trên cơ sở Công văn hướng dẫn lịch thời vụ gieo sạ của Sở Nông nghiệp và PTNT, huyện đã ban hành khung lịch gieo sạ cụ thể: Đối với lúa gieo sạ trực tiếp thì thời gian gieo sạ từ ngày 25/8/2023 đến ngày 30/9/2023 và thời gian gieo mạ đối với lúa cấy từ ngày 20/8/2023 đến ngày 30/8/2023, cấy lúa từ ngày 20/09/2023 đến 30/9/2023.

Sản xuất lúa trên nền đất nuôi tôm phần lớn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, đặc biệt là lượng mưa. Bên cạnh đó, quá trình chăm sóc lúa, người nông dân cần phải tập trung vào nhiều yếu tố khác nhau, từ việc làm đất, rửa mặn, tỉa mạ, gieo cấy, bón phân, cho đến quản lý dịch hại. Để góp phần canh tác hiệu quả lúa trên nền đất nuôi tôm năm 2023, khuyến cáo bà con nông dân tham khảo và làm tốt một số việc như sau:

1. Làm đất, rửa mặn

Trên nền đất nuôi tôm ở huyện An Minh thường xuyên xảy ra hiện tượng ngộ độc mặn do rửa mặn không tốt, để hạn chế vấn đề này bà con cần tận dụng nguồn nước mưa, nước ngọt hiện có dưới kênh rạch để rửa mặn trước khi gieo cấy, cụ thể:

Rửa mặn: trước khi gieo, cấy ít nhất 10-15 ngày tiến hành đưa nước ngọt vào ruộng ngâm khoảng 2-3 đêm sau đó tháo nước ra. Tiếp tục đưa nước ngọt vào ngâm đất lần 2 (khoảng 2-3 đêm) và tháo hết nước trên ruộng ra. Nên thử độ mặn nước sử  dụng để rửa mặn, khi độ mặn thấp hơn 1‰ mới tiến hành bơm rửa mặn. Chú ý, do nước mặn thường lắng phía bên dưới tầng nước mặt nên khi đặt máy bơm lấy nước cần thử độ mặn nước bên dưới.

Cần bố trí vụ tôm kết thúc sớm trong tháng 7 để có thời gian rửa mặn tốt. Để rửa mặn hiệu quả, trước tiên cần bón vôi với liều lượng 300 – 500 kg/ha. Nếu đất nhiễm mặn và có phèn thì nên bón loại vôi nung (CaO) để vừa rửa mặn vừa hạ phèn, còn với đất nhiễm mặn không có phèn nên bón vôi CaCO3. Sau đó, cày xới để đất tơi xốp, tăng khả năng thấm rút nước giúp cho việc rửa mặn trong đất được dễ dàng, đồng thời giúp vôi trộn đều trong đất. thực hiện đánh rãnh nước (rộng 20 cm, sâu 20 cm, 6-9 m/rãnh) để rửa phèn mặn, tránh dồn phèn và độc chất trong ruộng lúa. 

2. Tỉa mạ

Tùy thuộc vào cách gieo sạ hoặc cấy ta chọn giống lúa phù hợp với từng loại đất như: Một bụi đỏ, ST5, Đài thơm 8, ST24, ST25, OM 2517, F1.

Lượng giống khuyến cáo đối với sạ trực tiếp là 80-100 kg/ha. Đối với những diện tích cấy tỉa cần gieo mạ trên bờ với lượng giống khuyến cáo là 50-60 kg/ha (Hình 1).

3. Chăm sóc mạ

- Che mạ sau gieo: Sau khi gieo hạt giống cần che nắng, tránh thoát hơi nước và giữ ẩm cho hạt giống. Che lưới đến 5 ngày sau khi gieo.

- Tưới nước cho mạ: Sau khi gieo hạt giống, những hôm trời nắng, mạ khô phải tưới nước đều đặn, 2- 3 lần/mỗi ngày cho đến khi mạ cấy được.  

- Bón phân cho mạ gieo trên sân: Khi cây mạ được khoảng 5-7 ngày tuổi, bón phân cho cây lúa bằng phân bón qua lá vì lúa còn nhỏ bộ rễ chưa phát triển, với liều lượng 1/3 - 1/2 liều lượng khuyến cáo trên bao bì.

4. Gieo cấy

- Nếu áp dụng phương pháp cấy, tuổi mạ cấy từ 30 - 35 ngày, mật độ cấy đối với lúa lai từ 1-2 chồi/bụi, 30-35 bụi/m2; lúa thuần từ 2-3 chồi/bụi, 40-45 bụi/m2, không cấy quá sâu (Hình 2).

Sau khi cấy cần giữ mực nước ổn định thường xuyên trên ruộng, tránh để ruộng bị khô hạn, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa. Nếu thời tiết có mưa nhiều, nên tiếp tục tận dụng nước mưa để tháo rửa mặn, giúp lúa phát triển tốt và cho năng suất cao, đồng thời hạn chế  thiệt hại khi lúa gặp nắng hạn.

- Sau khi cấy cần kiểm tra mật độ cây lúa trên ruộng, nếu bị chết mạ cần tiến hành cấy dặm để đảm bảo mật độ.

5. Bón phân

Trên nền đất nuôi tôm, chất hữu cơ thải ra từ quá trình nuôi tôm cung cấp cho đất hàm lượng dinh dưỡng rất tốt, do đó việc bón phân hóa học bà con nông dân nên hạn chế sử dụng, khuyến cáo bà con nên sử dụng phân hữu cơ vi sinh để bón cho lúa vụ Mùa, cụ thể như sau:

Lượng phân bón cho 1 ha: 200 kg phân lân + 1000 kg phân hữu cơ hoặc Hữu cơ vi sinh (theo quy trình sản xuất lúa hữu cơ trên nền đất nuôi tôm, Trung tâm Khuyến nông Kiên Giang):

- Bón lót toàn bộ 200 kg/ha phân lân trước khi sạ, cấy và bón 400 kg/ha phân hữu cơ.

- Phân hữu cơ còn lại chia làm 02 lần bón : Bón thúc lần 1: 7 - 10 ngày sau khi sạ/cấy lượng phân bón: 300 kg/ha. Bón thúc lần 2: 18 - 22 ngày sau khi sạ/cấy lượng phân bón: 300 kg/ha.

- Nhằm đảm bảo không bị mất năng suất, bổ sung thêm các loại phân bón như sau: Lần 01: 7 - 10 NSKS bón 2 - 3 kg/ha phân bón có chứa acid humic. Lần 02: 18 - 22NSKS 2 kg/ha phân bón có chứa acid humic. Lần 03: giai đoạn lúa làm đòng và trổ phun phân bón lá có chứa kali và bo để giúp làm đòng và vào hạt tốt hơn.

Ngoài ra, cần tăng cường bón bổ sung một sốloại phân bón lá, các chếphẩm tăng cường khả năng chống chịu mặn như KNO3 với liều lượng 10g/1 lít nước; Brassinosteroid (Comcat 150WP, Nyro 0,01N,…); Plasti Mula 1 SL hoặc các loại phân bón chứa các nguyên tốCanxi, Magie, Silic.

6. Quản lý dịch hại

- Áp dụng triệt để các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật giai đoạn đầu (0-40 ngày sau khi sạ) để bảo vệ thiên địch, trong trường hợp xử lý sâu, bệnh lúa nên ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học và phun thuốc theo nguyên tắc 4 đúng:  Đúng thuốc; đúng liều lượng và nồng độ; đúng lúc và đúng cách.

- Ưu tiên sử dụng chế phẩm sinh học trừ sâu, rầy hại lúa như chế phẩm từ vi khuẩn Bacillus thuringienis (Bt) để trừ sâu non của các loài sâu thuộc bộ cánh vảy và 2 chế phẩm từ nấm ký sinh côn trùng như Ometar (chế phẩm nấm xanh) và Biovip (chế phẩm nấm trắng) để trừ các loài rầy, bọ xít và sâu cuốn lá nhỏ hại lúa. Bên cạnh đó, bà con nông dân cần thường xuyên thăm đồng để phát hiện sớm, phòng trừ kịp thời đảm bảo cho cây lúa sinh trưởng khỏe mạnh hạn chế thấp nhất thiệt hại do sâu, bệnh gây ra góp phần đảm bảo năng suất cuối vụ.

7. Thu hoạch

- Nên xiết nước trước khi thu hoạch 10 ngày để thuận tiện ứng dụng cơ giới hóa. Thu hoạch đúng độ chín khi 85 - 90% số hạt chắc trên bông chín vàng. Nếu thu hoạch sớm, hạt xanh non nhiều, giảm trọng lượng hạt và khi xay xát tỉ lệ gạo nguyên thấp, ngược lại nếu thu hoạch trễ, hạt dễ bị rụng, tăng tỷ lệ thất thoát và hạt dễ bị gãy khi xay xát.

Trên đây là một số khuyến cáo chăm sóc lúa vụ Mùa trên nền đất nuôi tôm, bà con nông dân có thể tham khảo và áp dụng để góp phần sản xuất hiệu quả./.