Kết quả quan trắc môi trường đợt 03 năm 2019

Ngày 30/01/2019, Chi cục Chăn nuôi và Thú y đã tiến hành quan trắc môi trường đợt 03 năm 2019 tại 20 điểm đầu nguồn cấp nước cho các vùng nuôi tôm nước lợ trọng điểm của 09 huyện, thành phố trong tỉnh và 03 điểm tại vùng nuôi cá lồng bè tập trung của xã Hòn Nghệ, huyện Kiên Lương. Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước như sau (có Phụ lục chi tiết kèm theo):

1. Vùng U Minh Thượng

Nhiệt độ: 25 - 27,5oC, pH: 7,2 - 8,1, độ mặn: 0 - 19‰, độ trong: 15 - 40 cm, độ kiềm: 71,6 - 143,2 mg/l, oxy hòa tan (DO): 3,5 - 5 mg/l, ammonia: 0,003 - 0,5 mg/l, tiêu hao oxy sinh học (BOD5): 2,568 – 5,009 mg/l. Phần lớn các chỉ tiêu hóa, lý tại các điểm quan trắc đều nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép.

Tuy nhiên, độ mặn thấp (từ 0 - 4‰) tại bến phà Xẻo Rô, Ba Đình, vàm Hóc Hỏa; độ kiềm thấp tại bến phà Xẻo Rô; hàm lượng Nitrite và Phosphate hầu hết vượt ngưỡng quy định phù hợp với sự phát triển đời sống thủy sinh; mật độ vi khuẩn Vibrio tổng số cao ở vàm Xẽo Nhào, kinh Cây Gõ; vi khuẩn Vibrio paraheamolitycus hiện diện ở hầu hết điểm quan trắc.

2. Vùng Tây sông Hậu

Nhiệt độ nước đạt trung bình 25oC, độ trong: 35 cm, độ kiềm: 71,6 mg/l, nitrite từ 0,003 - 0,015 mg/l, ammonia 0,00 mg/l, Phosphate 0,01 - 0,03 mg/l, tiêu hao oxy sinh học (BOD5) 2,869 – 2,942 mg/l nằm trong ngưỡng quy định phù hợp với sự phát triển đời sống thủy sinh.

Tuy nhiên, độ mặn: 0 % không phù hợp nuôi tôm nước lợ, pH hơi thấp: 6, 9 ở cả 3 điểm, DO thấp  (3mg/l) ở phà Vĩnh Thắng và vàm Rạch Tốt; vi khuẩn Vibrio tổng số và Vibrioparaheamolitycus hiện diện ở hầu hết điểm quan trắc.

3. Vùng Tứ giác Long Xuyên

Tại 7 điểm quan trắc có nhiệt độ nước: 26,5 - 29oC, độ mặn: 10 - 26‰, pH: 7,5 – 8,2, oxy hòa tan (DO): 4,0 - 5,0 mg/l, ammonia: 0 - 0,5 mg/l, tiêu hao oxy sinh học (BOD5): 2,254 – 4,245 mg/l và một số chỉ tiêu khác nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép và thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của tôm nước lợ.

Tuy nhiên, độ trong tại Thổ Sơn và Bình Sơn khá cao (55 – 60 cm); độ kiềm tại Bình Sơn, Hòa Điền, Phú Mỹ thấp (53,7 mg/l); Nitrite tại Bình Sơn, Thổ Sơn, Bình Trị cao (0,1 – 0,5 mg/l); Phosphate tại Bình Sơn, Thổ Sơn cao (0,25 mg/l): không phù hợp cho sự sinh trưởng, phát triển đời sống thủy sinh; mật độ vi khuẩn Vibrio tổng số cao ở cống Tam Bản, cống Rạch Đùng, đầm Đông Hồ; vi khuẩn Vibrio paraheamolitycus hiện diện ở hầu hết điểm quan trắc.

4. Vùng nuôi cá lồng bè tập trung của xã Hòn Nghệ - Kiên Lương

Nhiệt độ: 29 – 29,5oC, độ mặn: 19‰, oxy hòa tan (DO): 9 - 10 mg/l, hàm lượng NH4+: 0 mg/l, hàm lượng nitrite: 0 mg/l, phosphate: 0 mg/l, hầu hết các chỉ tiêu quan trắc nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép và thích hợp cho cá nuôi lồng bè phát triển.

5. Nhận định và khuyến cáo chung

* Nhận định:

- Các chỉ tiêu thủy lý, thủy hóa tại nhiều điểm có cải thiện so với đợt quan trắc ngày 16/01/2019, đa số nằm trong ngưỡng thích hợp cho sinh trưởng, phát triển đời sống thủy sinh. Tuy nhiên, tại vùng, từng điểm cũng có 1 vài chỉ tiêu không thích hợp.

* Giám sát dịch bệnh thụ động:

Kết quả xét nghiệm đã phát hiện tôm nuôi tại xã Vân Khánh Đông thuộc huyện An Minh bị bệnh Đốm trắng; tôm nuôi tại xã Thuận Yên, thành phố Hà Tiên, thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất bị bệnh Hoại tử gan tụy cấp.

* Khuyến cáo:

Đối với nuôi tôm nước lợ:

Để thuận lợi cho tôm nuôi nước lợ phát triển, hạn chế dịch bệnh giúp cho vụ tôm năm 2019 đạt năng suất, sản lượng cao, người nuôi tôm cần lưu ý thực hiện tốt một số khuyến cáo như sau:

- Thả giống đúng khung lịch thời vụ theo Thông báo số 226/TB-SNNPTNT ngày 14/12/2018 của Sở Nông nghiệp và PTNT hoặc lịch thời vụ của từng địa phương; đồng thời theo dõi bản tin kết quả quan trắc, cảnh báo môi trường của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Kiên Giang; tình hình thời tiết, thủy triều và chất lượng nước để lấy nước có chất lượng tốt vào ao.

- Cần bố trí ao chứa, lắng để dự trữ nước và xử lý diệt khuẩn thật kỹ trước khi đưa vào ao nuôi, duy trì mực nước thích hợp với từng hình thức nuôi để hạn chế sự biến động đột ngột các yếu tố môi trường gây sốc cho tôm nuôi.

 - Đối với những vùng nuôi có mật độ vi khuẩn Vibrio tổng số, Vibrio parahaemolyticus ở trên các kênh cấp nước cao, sau khi lấy nước vào ao chứa, lắng cần xử lý diệt khuẩn thật kỹ bằng các loại hóa chất được phép lưu hành trước khi cấp vào ao nuôi.

- Chọn mua con giống của những cơ sở sản xuất có uy tín, đã qua kiểm dịch, khỏe mạnh. Ngoài việc xét nghiệm các bệnh nguy hiểm do virus cần phải kiểm tra thêm vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus. Có thể áp dụng các biện pháp kiểm tra nhanh chất lượng tôm giống như: sốc formol, sốc nước ngọt trước khi thả. (Sốc formol bằng cách cho tôm giống vào dung dịch formol nồng độ 100-200 ppm, trong 30 giây đến 01 phút để loại bỏ bớt những con mang bệnh, con yếu trước khi thả giống).

- Năm 2019 Chi cục Chăn nuôi và Thú y tiếp tục hỗ trợ xét nghiệm miễn phí đối với tôm giống cho các hộ dân nuôi theo hình thức tôm - lúa, quảng canh, quảng canh cải tiến. Các hộ dân có nhu cầu liên hệ với Trạm Chăn nuôi và Thú y địa phương hoặc Trạm Chẩn đoán xét nghiệm tại số 729 Nguyễn Trung Trực, P. An Hòa, Tp. Rạch Giá, Kiên Giang để được hỗ trợ.

- Theo dõi độ mặn trong ao trước khi thả, báo cho trại sản xuất giống để thuần hóa độ mặn của tôm giống cho thích hợp nhằm hạn chế hao hụt sau khi thả.

Hiện nay, tại một số vùng tôm nuôi đang trong giai đoạn từ 10 - 45 ngày tuổi là giai đoạn rất mẫn cảm với bệnh, do đó người nuôi cần phải thực hiện tốt một số công tác sau:

+ Thường xuyên theo dõi tình hình sức khỏe của tôm, kiểm tra các yếu tố môi trường để kịp thời điều chỉnh nếu cần. Khi phát hiện tôm nuôi bị bệnh hoặc biểu hiện bất thường nên báo ngay cho cán bộ thú y địa phương, các hộ nuôi xung quanh, tuyệt đối không được xả nước ao nuôi bị bệnh ra ngoài môi trường nếu chưa qua xử lý để tránh lây lan trên diện rộng.

+ Độ kiềm, độ pH và Nitrite ở những điểm quan trắc ngoài ngưỡng thích hợp phải được quan tâm xử lý tốt để có giá trị thích hợp là: Độ kiềm từ 90 - 130 mg/l đối với tôm sú và 100 - 150 mg/l đối với tôm thẻ chân trắng; độ pH thích hợp cho tôm nuôi phát triển là 7,5 - 8,5 và biến thiên pH trong ngày không quá 0,5; hàm lượng Nitrite phải <0,05 mg/l.

Đối với nuôi cá lồng bè:

- Các địa phương có quy hoạch nuôi cá lồng bè ven biển, đảo cần thực hiện đúng quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt về vị trí đặt lồng, số lượng lồng, bảo vệ môi trường khu vực nuôi, ...

- Giám sát chặt chẽ tình hình môi trường nước vùng nuôi, thường xuyên theo dõi sức khỏe của cá, phân công người trực canh bè 24/24 giờ để kịp thời phát hiện các hiện tượng bất thường của môi trường nước và đưa ra giải pháp ứng phó thích hợp nhằm hạn chế thiệt hại.

- Hướng dẫn người nuôi tập trung thực hiện tốt quy trình phòng bệnh tổng hợp đã được cơ quan chuyên môn hướng dẫn, tập huấn:

+ Chọn con giống có nguồn gốc rõ ràng, đã được kiểm dịch, kích cỡ đồng đều, cá khỏe mạnh, không bị xây xát.

+ Thức ăn là cá mồi thì phải tươi, rửa cá bằng nước ngọt 2-3 lần trước khi cho cá ăn để loại bỏ các mầm bệnh. Nên sử dụng thức ăn viên dành cho cá để thuận tiện cho việc bổ sung vitamin, khoáng vi lượng để nâng cao sức đề kháng cho cá.

+ Thường xuyên vệ sinh lưới lồng, vùng nuôi để loại bỏ các chất thải, sinh vật bám, tăng lưu lượng trao đổi nước và giảm mật độ vi khuẩn trong lồng;

+ Định kỳ 5-7 ngày tắm cá bằng nước ngọt hoặc nước ngọt có pha formol với nồng độ 200ppm trong thời gian 20 - 30 phút có sục khí liên tục để phòng các bệnh do ký sinh trùng, vi khuẩn cho cá;

+ Khi phát hiện cá nuôi bị bệnh, chết hay môi trường nước của vùng nuôi có hiện tượng bất thường nên báo ngay cho UBND xã, Trạm Chăn nuôi và Thú y địa phương để được hướng dẫn các biện pháp ứng phó.

* Lưu ý:

** Những ngày tới nước lớn sẽ kéo dài từ ngày 01/02/2019 đến ngày 05/02/2019, mực nước cao nhất là 1,2 m, xuất hiện từ 01 giờ đến 03 giờ (ban đêm) tùy theo ngày và từng vùng nuôi.

** Trong thời gian tới, Trung tâm Khuyến nông tiếp tục tổ chức các buổi tọa đàm về nuôi tôm nước lợ; Chi cục Chăn nuôi và Thú y sẽ tổ chức các lớp tập huấn phòng chống dịch bệnh trên thủy sản. Người nuôi thủy sản (tôm, cá) có thể liên hệ với Trạm Khuyến nông, Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện, Tổ kinh tế - Kỹ thuật, Mạng lưới thú y xã để biết cụ thể hơn.

*** Kết quả Quan trắc đợt 04 dự kiến phát hành vào ngày 15/02/2019

Cần trao đổi thêm thông tin liên hệ Phòng Quản lý dịch bệnh - Chi cục Chăn nuôi và Thú y, điện thoại 0297.800.115.

Xem file đính kèm