Một số vấn đề cần quan tâm trong canh tác lúa trên nền đất nuôi tôm

Tỉnh Kiên Giang có diện tích lúa Mùa hơn 72.000 ha (vụ Mùa 2023-2024), tập trung ở các huyện vùng U Minh Thượng. Được xem là mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu, mang lại thu nhập cao, mô hình lúa - tôm hiện đang được các huyện ở vùng U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang quan tâm, ưu tiên thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển đổi từ đất trồng lúa 2 vụ kém hiệu quả sang canh tác 1 vụ lúa 1 vụ tôm nhằm góp phần thay đổi tập quán sản xuất trong nông dân, nâng cao hiệu quả kinh tế.

Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, lúa - tôm là mô hình sản xuất ít tác động tiêu cực tới môi trường xung quanh, ít rủi ro, phù hợp với khả năng của đa số nông dân. Khi nuôi tôm, đất sản xuất trở nên màu mỡ hơn, giúp lúa phát triển tốt, giảm được chi phí phân bón cũng như thuốc bảo vệ thực vật. Đặc biệt sau mỗi vụ tôm, chất mùn bã hữu cơ, vi sinh vật và thức ăn dư thừa của con tôm là nguồn dinh dưỡng rất tốt cho cây lúa. Ngược lại sau vụ lúa, đất được cải tạo, môi trường thuận lợi nên tôm nuôi mau lớn, ít gặp rủi ro và dịch bệnh hơn.

Mô hình sản xuất tôm-lúa tuy có nhiều ưu điểm nhưng sau một thời gian canh tác, người dân địa phương dần thấy được thách thức như phèn, mặn tích lũy nhiều trong đất (Hình 1) nếu không quan tâm hay rửa mặn không đúng kỹ thuật, không triệt để về lâu dài sẽ là trở ngại rất lớn với việc trồng lúa trên nền đất nuôi tôm. Thực tế trong thời gian qua cho thấy, để mô hình tôm-lúa phát huy hiệu quả, điều kiện tiên quyết là phải làm được vụ lúa. Để sản xuất hiệu quả vụ lúa trên nền đất nuôi tôm, bà con cần lưu ý và thực hiện tốt một số công việc sau:

1. Cần xác định rằng để canh tác vụ lúa trên đất nuôi tôm thành công thì khâu quan trọng nhất cần phải thực hiện là phải rửa mặn triệt để và đúng kỹ thuật, vì trong suốt thời gian nuôi tôm (6-7 tháng) đất ruộng ngâm trong nước mặn thẩm thấu vào trong đất trong suốt thời gian dài và canh tác nhiều năm nên độ mặn trong đất dần dần tích lũy, bên cạnh đó cây lúa ở giai đoạn mạ chịu được độ mặn dưới 2‰, các giai đoạn trở về sau rất mẫn cảm với mặn. Đặc biệt là đối với những diện tích cấy lúa, bà con thường ít hoặc không thực hiện rửa mặn đúng cách dẫn đến độ mặn vẫn còn cao trong đất, giai đoạn đầu của cây lúa phát triển rất tốt do rễ lúa chưa ăn sâu vào đất và lúc này nước mưa còn cung cấp đủ nước ngọt, tuy nhiên lúa đến giai đoạn làm đòng, trổ thường bị ảnh hưởng của mặn gây ảnh hưởng đến năng suất lúa. Thời điểm hiện tại vẫn còn nhiều nông dân còn chưa thu hoạch hết tôm, cua trên ruộng sẽ không đủ thời gian rửa mặn và có khả năng trễ thời vụ khuyến cáo (Hình 2).

2. Khuyến cáo bà con nông dân thực hiện rửa mặn (chú ý độ mặn trong đất) triệt để và đúng kỹ thuật, một số công việc như sau:

- Thời điểm rửa mặn:

+ Cần bố trí vụ tôm kết thúc sớm để có thời gian rửa mặn triệt để (kết thúc vào tháng 7). Thời gian rửa mặn hợp lý nhất là từ cuối tháng 7 - 8 dương lịch.

+ Tháng 9 - 12 dương lịch là thời vụ canh tác lúa để tránh bị ảnh hưởng của hạn mặn, thiếu nước ngọt cuối vụ, việc gieo cấy lúa nên tuân thủ theo khung lịch gieo sạ của ngành nông nghiệp tỉnh và UBND huyện ban hành.

- Phương pháp rửa mặn:

+ Sử dụng nước mưa để rửa mặn: Cần theo dõi thông báo có mưa lớn, áp thấp hay bão vào vùng biển Đông thì cần phải xổ cạn đến khô nước trên bề mặt ruộng hoặc xổ khô cả lòng mương nếu nước còn quá mặn (Hình 3). Đón các trận mưa lớn, giữ cho ngập mặt ruộng, ngâm ruộng qua 2 đến 3 đêm, sau đó lại xổ cạn như trước và lặp lại từ 3 đến 5 lần. Cày xới giúp đất tơi xốp, tăng khả năng thấm rút nước giúp cho việc rửa các muối trong đất được dễ dàng.

+ Trước tiên, bón vôi (CaO hoặc CaCO3) đều trên mặt ruộng với liều lượng 300 - 500 kg/ha. Sau đó, bà con nên tiến hành cày xới đất nhằm giúp vôi trộn đều trong đất (Hình 4). Khi có mưa, hứng nước mưa ngập mặt ruộng (mặt trảng) ngâm khoảng 2 đến 3 đêm, sau đó xổ cạn và lặp lại từ 3 đến 5 lần đến khi độ mặn trong nước còn 2‰ thì tiến hành gieo sạ.

+ Bón vôi cho lúa có khả năng điều chỉnh thẩm thấu, gia tăng khả năng hút nước của cây, hạn chế việc hấp thu và vận chuyển muối từ rễ vào thân cây, do đó gia tăng khả năng chống chịu mặn. Trên chân đất nhiễm mặn và có phèn thì nên bón loại vôi nung/vôi bột (CaO) để vừa rửa mặn vừa hạ phèn, còn với đất mặn không có phèn nên bón vôi đá CaCO3, khi bón sẽ nâng pH trong đất giúp đất giảm chua. Tạo nhiều rảnh thoát nước trên ruộng để rửa mặn tốt hơn (Hình 5).

- Kiểm tra độ mặn trong đất sau khi đã thực hiện việc rửa mặn:

+ Bà con nông dân thường đo độ mặn trong nước, khi đạt dưới 1‰ là tiến hành gieo sạ.

+ Tuy nhiên để xác định tương đối chính xác độ mặn để gieo sạ thì sau khi đã áp dụng đồng bộ các biện pháp rửa mặn trên, đo độ mặn nước dưới 2‰, tiến hành rút cạn nước trên mặt ruộng, phơi khoảng 1 - 2 ngày. Dùng tay khoét giữa ruộng 1 lỗ rộng và sâu khoảng 20 - 30 cm, chờ nước trong đất rịn ra, lắng trong và đo độ mặn. Nếu đo độ mặn dao động từ  2 - 3‰, thì tiến hành gieo sạ. Nếu độ mặn cao hơn 2 - 3‰, thì tiếp tục rửa mặn.

- Ngoài ra, khi đã thực hiện rửa mặn triệt để như trên thì bà con cũng cần lưu ý một số biện pháp sau:

+ Tăng cường sử dụng phân bón có kali nhằm làm tăng hàm lượng K+ trong cây từ đó hạn chế sự thu hút Na+ vào cây, hạn chế độc do Na+.

+ Cần ưu tiên sử dụng phân đạm gốc amon (NH4+) để hạn chế độc Na+ và dạng phân lân dễ tiêu như super lân, lân trong DAP, MAP, MKP... để cung cấp lân cho cây, hạn chế sự thu hút các ion Cl- quá nhiều trong cây sẽ gây ngộ độc cho cây.

+ Phun phân bón lá vào các giai đoạn sinh trưởng khác nhau cũng giúp cho cây lúa đủ sức vượt qua được tác hại do mặn gây ra khi bộ rễ không hút đủ dinh dưỡng. Sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng như: Brassinolide,.. giúp tăng khả năng chống chịu hạn, mặn.

Trên đây là một số lưu ý trong canh tác lúa trên nền đất nuôi tôm bà con cần quan tâm thực hiện tốt góp phần sản xuất thành công vụ Mùa sắp tới.