1. Vùng U Minh Thượng
Độ mặn: 3 - 28‰, nhiệt độ: 25 - 27oC, pH: 7,2 - 8,0, độ trong: 15 - 50 cm, độ kiềm: 89,5 – 125,3 mg/l, oxy hòa tan (DO): 1,0 - 6,5 mg/l, ammonia: 0,003 - 0,05 mg/l, tiêu hao oxy sinh học (BOD): 2,03 - 4,57 mg/l. Hầu hết các chỉ tiêu hóa, lý môi trường nước tại các điểm quan trắc đều nằm trong nghưỡng giới hạn cho phép, thích hợp cho tôm nuôi phát triển;
Tuy nhiên, tại một số điểm thu như: Bến phà Xẻo Rô (An Biên), Vàm Hóc Hỏa (U Minh Thượng) độ mặn thấp (chỉ 3 - 4 ‰); Vàm Thứ 6 Biển (An Biên), Ba Đình (Vĩnh Thuận) độ trong thấp (chỉ 15 - 18 cm); Kênh Ranh Hạt, Ba Đình (Vĩnh Thuận) hàm lượng oxy hòa tan quá thấp (chỉ 1,0 - 2,5 ng/l) không thích hợp cho tôm nuôi.
Hàm lượng nitrite dao động từ 0,02 - 0,5 mg/l, hàm lượng phosphate dao động từ 0,1 - 1,0 mg/l hầu hết các điểm thu đều vượt ngưỡng giới hạn cho phép đối với động vật thủy sản nuôi.
2. Vùng Tây sông Hậu
Nhiệt độ 27oC, pH 7,0 - 8,1, độ trong 25 - 30 cm, độ kiềm 53,7 - 71,6 mg/l, tiêu hao oxy sinh học 3,9 - 4,3 mg/l, hàm lượng ammonia 0 mg/l đều nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép đối với sự sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi;
Độ mặn 0 - 3‰, hàm lượng oxy hòa tan (DO): 2,0 - 3,0 mg/l, hàm lượng nitrite 0,4 - 0,5 mg/l; hàm lượng phosphate 0,2 - 0,3 mg/l không thích hợp cho tôm nuôi phát triển.
3. Vùng Tứ giác Long Xuyên
Nhiệt độ: 27 - 31oC, độ mặn: 14 - 25‰, pH: 7,0 - 8,2, độ trong: 30 - 50 cm, độ kiềm: 35,8 - 107,4 mg/l, oxy hòa tan (DO): 3,5 - 4,5 mg/l, hàm lượng nitrite: 0,05 - 0,1 mg/l, ammonia: 0 - 0,05 mg/l, phosphate: 0 - 0,25 mg/l, tiêu hao oxy sinh học (BOD): 3,26 - 4,40 mg/l. Hầu hết thông số đo các chỉ tiêu lý hóa tại các điểm quan trắc đều nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép.
Tại một điểm quan trắc như: Cống Vạn Thanh (Hòn Đất) có hàm lượng phosphate (0,25 mg/l) cao vượt ngưỡng giới hạn cho phép; Kênh Nông Trường (Kiên Lương) hàm lượng nitrite (0,1 mg/l) cao vượt ngưỡng giới hạn; Kênh Nông Trường, Cống Tam Bản, Cống Rạch Đùng (Kiên Lương) độ kiềm rất thấp (chỉ 35,8 - 53,7 mg/l) do bị nhiễm phèn nặng, không thích hợp cho sự phát triển của tôm nuôi.
* Chất lượng nước tại cống Tam Bản trong các đợt quan trắc gần đây:
Riêng kết quả quan trắc môi trường tại cống Tam Bản trong 3 đợt gần đây ghi nhận: độ kiềm thấp (từ 53,7-71,6 mg/l), hàm lượng NO2 vượt ngưỡng cho phép từ 6 – 20 lần, cao nhất vào đợt quan trắc ngày 20/4/2017. NO2 là khí độc đối với thủy sản nhất là tôm nuôi trong môi trường công nghiệp mật độ cao, nhiều chất thải từ thức ăn tôm. Nếu phát sinh liên tục và duy trì ở hàm lượng cao NO2 có khả năng gây độc cho thủy sản làm chúng giảm sức đề kháng, giảm ăn, nổi đầu, chậm tăng trưởng, một số bị chết dần. Tuy nhiên trong đợt quan trắc ngày 10/5/2017 thì hàm lượng NO2 có giá trị 0, trong ngưỡng thích hợp.
Mật độ vi khuẩn Vibrio sp tổng số vượt ngưỡng từ 4-6 lần và luôn có sự hiện diện không cho phép của chủng Vibrio parahaemolyticus với mật độ từ 40 – 1.440 CFU/ml.
Qua đó cho thấy chất lượng môi trường nuôi cho nuôi tôm tại cống Tam Bản trong thời gian gần đây có nhiều chỉ tiêu không thích hợp, vượt ngưỡng ở mức cao, chậm cải thiện như độ kiềm, mật độ vi khuẩn Vibrio sp.
4. Nhận định và khuyến cáo chung
Qua kết quả quan trắc các điểm cấp nước đầu nguồn phục vụ cho nuôi tôm nước lợ cho thấy:
- Mật độ Vibrio tổng số cao vượt ngưỡng tại một số điểm quan trắc như Vàm Xẻo Nhàu, Kênh Cây Gõ (An Minh), Cống Tam Bản (Kiên Lương) từ 1.490 - 6.110 CFU/ml. Do đó, người nuôi lấy nước từ các kênh này tuyệt đối không nên lây trực tiếp vào ao nuôi, phải có ao chứa, lắng để xử lý diệt khuẩn thật kỹ trước khi cấp vào ao nuôi. Đối với những ao nuôi có mật độ Vibrio tổng số cao cần tiến hành diệt khuẩn, sau đó sử dụng men vi sinh để khôi phục hệ vi khuẩn có lợi trong ao.
Đặc biệt, Vibrio parahaemolyticus vẫn được phát hiện trong hầu hết các thủy vực khảo sát, tuy nhiên mật độ đã giảm nhiều so với đợt quan trắc ngày 26/4/2017: tại điểm Vàm Xẻo Nhàu (An Minh), Cống Tam Bản (Kiên Lương), mật độ vi khuẩn này tồn tại ở mức cao (985 - 1.440 CFU/ml). Do đó, người nuôi nên xử lý nước thật kỹ trong ao lắng trước khi cấp vào ao nuôi, định kỳ 15 ngày/lần tiến hành diệt khuẩn cho ao nuôi bằng BKC, đồng thời bổ sung các chất bổ trợ gan cho tôm ăn, sử dụng men vi sinh để khôi phục hệ vi khuẩn có lợi.
- Giám sát dịch bệnh thụ động: từ ngày 28/4 - 12/5/2017 đã phát hiện 11 ổ dịch bệnh Đốm trắng và Hoại tử gan tụy ở 08 ấp cùa 04 xã thuộc 02 huyện trong tỉnh với tổng diện tích thiệt hại là 35,5 ha. Chi cục Chăn nuôi và Thú y đã phối hợp xác minh, giám sát, hỗ trợ hóa chất sát trùng cho hộ nuôi xử lý dứt điểm, tiêu diệt mầm bệnh khi đang còn ở diện hẹp, hạn chế lây lan. Lũy kế đến nay tổng diện tích nuôi tôm bị thiệt hại qua xác minh của ngành thú y là 405 ha (155 ổ dịch bệnh xảy ra tại 58 ấp thuộc 27 xã của 07 huyện). Ngoài ra theo số liệu của Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng Kinh tế các huyện, lũy kế từ đầu năm đến nay có 4.157,3 ha diện tích tôm nuôi bị thiệt hại do biến động bất lợi của các yếu tố môi trường, 44,5 ha diện tích nuôi tôm công nghiệp ở Kiên Lương, Hà Tiên bị thiệt hại do bệnh đốm trắng, hoại tử gan tụy cấp tính nhưng không khai báo, chưa có thông tin cụ thể, cần thiết theo Thông tư số 04/2016/TT-BNNPTNT để bổ sung vào dữ liệu báo cáo dịch bệnh theo quy định của Cục Thú y.
Hiện nay, đang trong thời điểm giao mùa, thường xuyên xuất hiện những cơn mưa lớn làm cho độ mặn, độ kiềm trong ao nuôi, độ trong và trên kênh cấp nước giảm thấp. Do đó, để hạn chế các rủi ro người nuôi tôm cần thực hiện tốt một số khuyến cáo như sau:
- Theo dõi bản tin quan trắc môi trường hàng kỳ của Chi cục Chăn nuôi và Thú y để chủ động trong việc lấy nước;
- Xét nghiệm bệnh trên tôm giống trước khi thả nuôi, theo dõi độ mặn trong ao trước khi thả, báo cho trại sản xuất giống để thuần hóa độ mặn của tôm giống cho thích hợp nhằm hạn chế hao hụt sau khi thả.
- Tuyệt đối không lấy nước trực tiếp từ kênh cấp vào ao nuôi nếu chưa diệt khuẩn.
- Định kỳ 2 lần/ngày kiểm tra các chỉ tiêu môi trường trong ao nuôi để kịp thời ứng phó nếu có sự bất lợi.
- Khi mưa lớn thường xảy ra hiện tượng xì phèn đáy ao và rửa trôi phèn từ bờ bao, do đó người nuôi cần bón vôi quanh ao trước và sau cơn mưa để duy trì hệ đệm cũng như ổn định pH trong ao. Sau cơn mưa cần giảm lượng thức ăn và bổ sung thêm các yếu tố vi lượng, khoáng, vitamin để tăng sức đề kháng cho tôm.
- Theo dõi tình hình sức khỏe tôm nuôi hàng ngày, phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường để xử lý kịp thời, hạn chế thiệt hại. Nếu phát hiện tôm nuôi bị bệnh nên báo ngay cho cán bộ thú y địa phương, các hộ nuôi xung quanh, tuyệt đối không được xả nước, tôm của ao nuôi bị bệnh ra ngoài môi trường mà chưa qua xử lý để tránh lây lan trên diện rộng.
* Lưu ý: những ngày tới nước lớn sẽ kéo dài từ ngày 14/5/2017 đến ngày 18/5/2017, mực nước cao nhất là 1,1 m, xuất hiện từ 16 giờ 30 phút đến 20 giờ 30 tùy theo ngày và từng vùng nuôi. Người nuôi tôm có thể chủ động lấy nước vào ao lắng, xử lý trước khi cấp nước mới vào ao nuôi tôm.
Trên đây là kết quả quan trắc môi trường đợt 09 - 2017, Chi cục Chăn nuôi và Thú y đề nghị các đơn vị liên quan có biện pháp phù hợp hỗ trợ thông báo, thông tin rộng đến các hộ nuôi tôm nước lợ biết để có biện pháp xử lý thích hợp, chủ động trong sản xuất.
Cần trao đổi thêm thông tin liên hệ Phòng Quản lý dịch bệnh - Chi cục Chăn nuôi và Thú y, đện thoại 077.800.115.
5. Đề nghị
Hiện nay thời tiết trong thời điểm giao mùa, qua giám sát dịch tễ bệnh thủy sản hàng năm cho thấy, đây là thời điểm dễ phát sinh các loại dịch bệnh nguy hiểm trên cá nuôi lồng bè, nhuyễn thể, tôm nước lợ do có sự thay đổi đáng kể (hoặc đột ngột) yếu tố môi trường theo hướng bất lợi như hướng gió, dòng chảy, lượng mưa, phù sa,…
Vì vậy, Chi cục Chăn nuôi và Thú y yêu cầu Trạm Chăn nuôi và Thú y các huyện, thị xã, thành phố tăng cường, chủ động giám sát, nắm bắt thông tin từ người dân, chính quyền địa phương sở tại về tình hình nuôi thủy sản ven biển, trong các kênh rạch lấy nước trực tiếp từ biển vào để kịp thời ghi nhận, phát hiện dấu hiệu bất thường và có báo cáo, khuyến cáo, đề xuất biện pháp xử lý, không để chậm trễ, bị động.
(Ghi chú: Quan trắc đợt 10 sẽ thực hiện vào ngày 23/5/2017)