1. Vùng U Minh Thượng
- Độ mặn: thấp nhất 0 ‰, cao nhất 28‰. Hầu hết các điểm thu có độ mặn phù hợp cho sự sinh trưởng của tôm nước lợ. Riêng điểm bến phà Xẻo Rô (An Biên), Ba Đình (Vĩnh Thuận), vàm Hóc Hỏa (U Minh Thượng) độ mặn vẫn còn quá thấp dưới 3‰, chưa thích hợp cho việc thả giống;
- Nhiệt độ dao động từ 25 - 28oC; pH dao động từ 7,6 – 8,2; độ trong dao động từ 20 – 50 cm; độ kiềm dao động từ 71,6 – 125,3 mg/l; hàm lượng oxy hòa tan (DO) dao động từ 3,5 – 4,5 mg/l; tiêu hao oxy sinh học (BOD) dao động từ 2,94 - 4,23 mg/l; hàm lượng ammonia dao động từ 0,009 – 0,03 mg/l phù hợp cho tôm nuôi phát triển;
- Hàm lượng nitrite dao động từ 0,1 – 0,5 mg/l, hầu hết các điểm thu đều có hàm lượng nitrite vượt ngưỡng giới hạn cho phép đối với động vật thủy sản nuôi;
- Hàm lượng phosphate tại các điểm thu dao động từ 0,1 – 1 mg/l, hầu hết đều nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép. Riêng tại một số điểm thu như bến phà Xẻo Rô (An Biên), vàm Hóc Hỏa (U Minh Thượng), kênh Ranh Hạt, kênh 80 Thước (Vĩnh Thuận) là có hàm lượng phosphate (0,25 – 1 mg/l) vượt ngưỡng thích hợp cho sự phát triển của động vật thủy sản;
- Mật độ Vibrio tổng số mật độ từ 0 – 10.690 CFU/ml, đặc biệt tại các điểm thu vàm Xẻo Nhàu, kênh Cây Gõ, cầu Kinh 5 (An Minh) mật độ Vibrio tổng số quá cao, từ 4.975 – 10.690 CFU/ml vượt ngưỡng cho phép rất lớn.
2. Vùng Tây sông Hậu
Kết quả quan trắc tại các điểm thu phà Vĩnh Thắng, vàm Rạch Tốt, vàm Cả Mới Lớn (Gò Quao) như sau:
- Các yếu tố như: nhiệt độ 25oC; pH 8,1 – 8,3; độ trong 25 - 30 cm; độ kiềm 71,6 – 107,4 mg/l; hàm lượng oxy hòa tan 3,5 – 4,0 mg/l; hàm lượng ammonia 0 mg/l, tiêu hao oxy sinh học 3,17 – 3,48 mg/l đều nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép đối với sự sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi.
- Một số yếu tố như: độ mặn 0‰; hàm lượng nitrite 0,45 – 0,51 mg/l; hàm lượng phosphate 0,3 – 0,42 mg/l không thích hợp cho thả giống tôm nuôi nước lợ.
- Mật độ Vibrio tổng số: không phát hiện.
3. Vùng Tứ giác Long Xuyên
- Nhiệt độ 25 – 27oC; độ mặn 23 – 28‰; pH 7,2 – 7,9; độ trong 30 – 45 cm; hàm lượng oxy hòa tan (DO) 3,5 – 4,0 mg/l; tiêu hao oxy sinh học (BOD): dao động từ 2,9 đến 3,2 mg/l; hàm lượng nitrite 0 – 0,05 mg/l; hàm lượng ammonia 0,009 – 0,03 mg/l thích hợp cho sự phát triển của tôm nuôi;
- Độ kiềm: dao động từ 35,8 – 125,3 mg/l, hầu hết tại các điểm thu đều ghi nhận độ kiềm trong ngưỡng thích hợp cho sự phát triển của tôm nuôi nước lợ (từ 71,6 – 125,3 mg/l). Riêng điểm thu tại kênh Nông Trường và cống Rạch Đùng (Kiên Lương) có độ kiềm quá thấp, chỉ 35,8 – 53,7 mg/l, do bị nhiễm phèn nặng, không thích hợp cho sự phát triển của tôm nuôi. Do đó người nuôi nên xử lý nước trong ao chứa, lắng bằng vôi để nâng cao độ kiềm trước khi cấp vào ao nuôi.
- Hàm lượng phosphate tại các điểm thu giao động từ 0 – 0,25 mg/l, đa số các điểm thu có hàm lượng phosphate nằm trong ngưỡng giới hạn thích hợp (0 – 0,1 mg/l). Riêng điểm thu tại cống Vạn Thanh (Hòn Đất) có hàm lượng phosphate vượt ngưỡng giới hạn cho phép (0,25 mg/l).
- Mật độ Vibrio tổng số tại các điểm từ 5 – 1.290 CFU/ml, vượt ngưỡng giới hạn cho phép tại các điểm thu cống Vạn Thanh (Hòn Đất), kênh Nông Trường, cống Tam Bản (Kiên Lương).
4. Nhận định và khuyến cáo chung
Qua kết quả quan trắc các điểm cấp nước đầu nguồn phục vụ cho nuôi tôm nước lợ cho thấy:
Phần lớn các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH, độ kiềm, độ trong, hàm lượng oxy hòa tan (DO), hàm lượng ammonia, tiêu hao oxy sinh học tại các điểm thu ở ngưỡng có lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của tôm nước lợ. Tuy nhiên độ mặn, hàm lượng nitrite, phosphate ở một số điểm thu không nằm trong ngưỡng thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của tôm nuôi.
Ghi nhận sự hiện diện của Vibrio parahaemolyticus trong hầu hết các thủy vực khảo sát, đặc biệt tại điểm thu kênh Cây Gõ, cầu Kinh 5, vàm Xẻo Nhàu (An Minh), mật độ vi khuẩn này quá cao (870 – 2.860 CFU/ml). Điều này chứng tỏ tác nhân gây bệnh hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm đang tồn tại ở ngoài môi trường với mật độ cao, có khả năng gây bùng phát dịch bệnh. Do đó, người nuôi tôm khi lấy nước cho ao nuôi nên lấy vào ao chứa, lắng và xử lý diệt khuẩn kỹ trước khi sử dụng.
Bên cạnh đó, qua giám sát dịch bệnh đã phát hiện 02 ổ dịch bệnh Hoại tử gan tụy cấp tính, 01 ổ dịch bệnh Đốm trắng ở huyện An Minh, 01 ổ dịch bệnh Đốm trắng ở thị xã Hà Tiên. Chi cục Chăn nuôi và Thú y đã phối hợp xác minh, giám sát, hỗ trợ hóa chất sát trùng cho hộ nuôi xử lý dứt điểm, tiêu diệt mầm bệnh khi đang còn ở diện hẹp, hạn chế lây lan.
Để hạn chế các rủi ro do sự biến động bất lợi của các yếu tố môi trường và dịch bệnh người nuôi tôm cần tuân thủ đúng lịch thời vụ thả giống tôm nước lợ năm 2017 của Sở Nông nghiệp và PTNT, theo dõi bản tin quan trắc môi trường hàng kỳ của Chi cục Chăn nuôi và Thú y để chủ động trong việc lấy nước. Xử lý diệt khuẩn nước thật kỹ trước khi cấp vào ao nuôi, theo dõi tình hình sức khỏe tôm nuôi hàng ngày, phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường để xử lý kịp thời, hạn chế thiệt hại. Nếu phát hiện tôm nuôi bị bệnh nên báo ngay cho cán bộ thú y địa phương, các hộ nuôi xung quanh, tuyệt đối không được xả nước, tôm của ao nuôi bị bệnh ra ngoài môi trường mà chưa qua xử lý để tránh lây lan trên diện rộng.
* Lưu ý: Những ngày tới nước lớn sẽ kéo dài từ ngày 23/02/2017 đến ngày 26/02/2017, mực nước cao nhất là 1,1 m, xuất hiện từ 00 giờ đến 05 giờ tùy theo từng vùng nuôi. Người nuôi tôm có thể chủ động lấy nước vào ao lắng, xử lý trước khi cấp nước mới vào ao nuôi tôm.
Trên đây là kết quả quan trắc môi trường đợt 03 – 2017, Sở Nông nghiệp và PTNT đề nghị các đơn vị liên quan có biện pháp phù hợp hỗ trợ thông báo, thông tin rộng rãi đến các hộ nuôi tôm nước lợ biết để có biện pháp xử lý thích hợp, chủ động trong sản xuất.
(Lịch quan trắc môi trường đợt 04: ngày 03/3/2017).