Kết quả quan trắc môi trường nước đợt 21 năm 2018 (Ngày quan trắc 26/10/2018)

Ngày 26/10/2018, Chi cục Chăn nuôi và Thú y đã tiến hành quan trắc môi trường đợt 21 năm 2018 tại 20 điểm đầu nguồn cấp nước cho các vùng nuôi tôm nước lợ trọng điểm của 09 huyện, thị xã trong tỉnh và 03 điểm tại vùng nuôi cá lồng bè tập trung của xã Hòn Nghệ, huyện Kiên Lương. Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước như sau (có Phụ lục chi tiết kèm theo):

1. Vùng U Minh Thượng

Nhiệt độ: 25 - 29,0oC, pH: 6,9 - 8,5, độ trong: 10 - 40 cm, độ kiềm: 35,8 - 89,5 mg/l, oxy hòa tan (DO): 3,0 - 6,0 mg/l, ammonia: 0 - 0,08 mg/l, tiêu hao oxy sinh học (BOD5): 3,346 - 5,823 mg/l. Phần lớn các chỉ tiêu hóa, lý môi trường nước tại các điểm quan trắc đều nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép.

Độ mặn, độ kiềm, độ trong trên các kênh cấp nước của vùng tăng nhẹ so với đợt quan trắc trước, có 3/10 điểm có độ trong thấp (10 - 15 cm), 6/10 điểm có độ kiềm thấp (35,8 - 53,7 mg/l), 8/10 điểm có độ mặn thấp (từ 0 - 4‰) không thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi nước lợ.

Nitrite dao động từ 0 - 0,5 mg/l, vượt ngưỡng giới hạn cho phép đối với động vật thủy sản nuôi từ 2 - 10 lần tại 8/10 điểm quan trắc của vùng. Phosphate dao động từ 0,0 - 0,5 mg/l, vượt ngưỡng giới hạn cho phép từ 2 - 10 lần tại 9/10 điểm quan trắc.

2. Vùng Tây sông Hậu

Nhiệt độ: 25,5oC, độ trong: 27,0 - 28,0 cm, độ kiềm: 71,6 mg/l, nitrite: 0,015 - 0,02 mg/l, phosphate: 0,02 - 0,2 mg/l, ammonia: 0 mg/l, tiêu hao oxy sinh học: 3,497 - 3,561 mg/l thích hợp cho sự phát triển của tôm nuôi.

Tuy nhiên, độ mặn vẫn tiếp tục duy trì ở mức 0‰, pH thấp (chỉ 6,8 - 6,9) ở tại cả 03 điểm quan trắc của vùng, oxy hòa tan thấp ở 2/3 điểm quan trắc, chỉ 2,5 mg/l không thích hợp cho hoạt động nuôi tôm nước lợ.

3. Vùng Tứ giác Long Xuyên

Nhiệt độ: 28 - 29,0oC, pH: 7,0 - 8,1, độ trong: 25 - 50 cm oxy hòa tan (DO): 4,0 - 5,5 mg/l, ammonia: 0 - 0,03 mg/l, phosphate: 0 - 0,25 mg/l, tiêu hao oxy sinh học (BOD5): 3,151 - 4,872 mg/l. Phần lớn các chỉ tiêu lý hóa trên tại các điểm quan trắc nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép và thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của tôm nước lợ.

Tuy nhiên, hàm lượng nitrite (tại 4/7 điểm quan trắc), phosphate (tại 1/7 điểm quan trắc) vượt ngưỡng giới hạn cho phép và không thích hợp cho đời sống của tôm nuôi nước lợ.

Độ mặn (0 - 15‰) tăng nhẹ so với đợt quan trắc trước tại các điểm quan trắc nằm ở ven biển, đặc biệt tại điểm quan trắc cống Tam Bản (Kiên Lương) độ mặn đạt 15‰ thích hợp để lấy nước vào nuôi tôm.

Độ kiềm (17,9 - 35,8 mg/l) vẫn tiếp tục tồn tại ở mức thấp trên tất cả các điểm quan trắc của vùng, dưới ngưỡng thích hợp cho tôm nuôi phát triển.

4. Vùng nuôi cá lồng bè tập trung của xã Hòn Nghệ - Kiên Lương

Nhiệt độ: 28,5oC, độ mặn: 17‰ không tăng so với đợt quan quan trắc trước, oxy hòa tan (DO): 7,5 mg/l, hàm lượng NH4+: 0 mg/l, hàm lượng nitrite: 0 mg/l, phosphate: 0 mg/l, phần lớn các chỉ tiêu quan trắc nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép và thích hợp cho cá nuôi lồng bè phát triển.

Mật độ vi khuẩn Vibrio.sp tại các điểm quan trắc của vùng tăng cao đột biến so với đợt quan trắc trước, dao động từ 3.300 - 23.800 cfu/ml, vượt ngưỡng giới hạn cho phép đối với động vật thủy sản nuôi (>1.000 cfu/ml) từ 3 - 23 lần.

5. Nhận định và khuyến cáo chung

* Nhận định:

- Tại phần lớn các điểm quan trắc tồn tại nhiều bất lợi, cần phải lưu ý, xử lý như: độ kiềm thấp (11/20 điểm), độ mặn thấp (14/23 điểm), độ trong thấp (2/20 điểm) hàm lượng nitrite cao vượt ngưỡng (13/23 điểm), hàm lượng phosphate cao vượt ngưỡng (9/23 điểm).

- Mật độ Vibrio tổng số có xu giảm thấp hơn so với đợt quan trắc trước tại các điểm quan trắc đầu nguồn kênh cấp nước phục vụ cho nuôi tôm nước lợ, chỉ có 1/20 điểm quan trắc có mật độ vi khuẩn Vibrio tổng số vượt ngưỡng giới hạn cho phép (>1.000 cfu/ml) tại cống Rạch Đùng (Kiên Lương).

Ở vùng nuôi cá lồng bè tập trung của xã Hòn Nghệ - Kiên Lương tại thời điểm quan trắc, người dân đã di chuyển bè nuôi cá sang vùng nuôi ở Bãi Nam. Mật độ vi khuẩn Vibrio tổng số tăng cao đột biến so với đợt quan trắc trước (gấp 23 lần cho phép), có khả năng là do nước ngọt từ trong đất liền đổ ra biển mang theo nhiều phù sa, chất thải làm cho mật độ vi khuẩn ở vùng nuôi tăng cao. Vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus tiếp tục được ghi nhận trong 16/20 kênh cấp nước phục vụ nuôi tôm và mật độ giảm nhiều so với đợt quan trắc trước, cao nhất chỉ 450 cfu/ml.

* Giám sát dịch bệnh thụ động:

Từ ngày 16/10 - 29/10/2018 không ghi nhận thêm ổ dịch bệnh, thiệt hại trên tôm nuôi nước lợ.

Đối với cá nuôi lồng bè trên biển có ghi nhận trường hợp cá nuôi của 04 hộ (22 lồng) bị thiệt hại tại ấp Mũi Dừa, xã Dương Hòa, huyện Kiên Lương với số lượng 1.500 con cá bớp nhỏ (trọng lượng 1 - 2 kg), 100 con cá bớp lớn (trọng lượng 5 - 7 kg), 950 con cá mú (trọng lượng 0.5 - 0.7 kg). Nguyên nhân thiệt hại có khả năng do yếu tố môi trường bất lợi ở một thời điểm nhất định gây ngộ độc cấp tính cho cá, người dân không kịp di chuyển lồng bè nuôi sang khu vực khác nên bị thiệt hại. Đến nay, qua giám sát địa bàn của Trạm Chăn nuôi và Thú y Kiên Lương không phát hiện các bất thường trên thủy sản tự nhiên, nuôi ven biển cũng như nước biển ven bờ và nước tại khu vực cống Tam Bản, Hòn Một.

* Khuyến cáo:

Đối với nuôi tôm nước lợ:

Theo Thông báo số 263/TB-SNNPTNT ngày 20/11/2017 của Sở Nông nghiệp và PTNT về thông báo kế hoạch sản xuất tôm nuôi đầu vụ năm 2018 thì mùa vụ sản xuất tôm sú - lúa đã hết lịch thời vụ từ đầu tháng 9/2018.

Hiện nay đang là giai đoạn cuối mùa mưa, thời tiết bắt đầu chuyển mùa, gió Bấc thổi nhiều làm cho nhiệt độ không khí giảm, giao động trong khoảng 24 - 31oC, nhiệt độ nước giảm cùng với việc nước ngọt từ thượng nguồn các con sông đổ về nhiều đẩy nước mặn lùi xa, nước ở trên các kênh cấp bị ngọt hóa, độ kiềm giảm thấp.

Để thuận lợi cho tôm nuôi nước mặn lợ phát triển các nông hộ nuôi tôm cần lưu ý thực hiện các biện pháp quản lý ao nuôi tổng hợp để tránh tổn thất. Đồng thời theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình nuôi, tình hình thời tiết thủy văn, quan trắc môi trường, quan trắc mầm bệnh, để có những biện pháp xử lý phù hợp, kịp thời. Tùy vùng nuôi, người nuôi cần thực hiện tốt một số khuyến cáo như sau:

- Các thủy vực có độ mặn thấp (<5‰) cần hạn chế lấy nước vào ao nuôi, môi trường thiếu khoáng, thiếu kiềm tôm nuôi có thể chậm lớn, mềm vỏ, dễ nhiễm bệnh. Cần bổ sung thêm Kali và magiê để bảo đảm tôm tăng trưởng bình thường và tỉ lệ sống cao.

- Đối với các cơ sở nuôi tôm thương phẩm nếu không có sẵn nguồn nước dự trữ thì không nên thả nuôi mới trong giai đoạn này. Đối với diện tích tôm đang thả nuôi nên hạn chế tối đa việc lấy nước từ các kênh cấp vào ao nuôi tôm, nếu bắt buộc phải thay hay châm thêm nước thì xử lý thật kỹ trong ao lắng trước khi cấp vào ao nuôi. Đối với ao có mật độ vi khuẩn Vibrio cao, định kỳ 15 ngày/lần tiến hành diệt khuẩn, bổ sung các chất bổ trợ gan cho tôm ăn, sử dụng men vi sinh để khôi phục hệ vi khuẩn có lợi trong ao.

- Hằng ngày kiểm tra các chỉ tiêu môi trường trong ao nuôi để kịp thời điều chỉnh nếu có sự bất lợi, kiểm tra sàng ăn (nhá) để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp tránh dư thừa.

- Thường xuyên theo dõi tình hình sức khỏe của tôm, kiểm tra các yếu tố môi trường để kịp thời điều chỉnh nếu cần và khi phát hiện tôm nuôi bị bệnh hoặc biểu hiện bất thường nên báo ngay cho cán bộ thú y địa phương, các hộ nuôi xung quanh, tuyệt đối không được xả nước, tôm của ao nuôi bị bệnh ra ngoài môi trường nếu chưa qua xử lý để tránh lây lan trên diện rộng;

- Độ kiềm, độ pH và nitrit ở những điểm quan trắc ngoài ngưỡng thích hợp phải được quan tâm xử lý tốt để có giá trị thích hợp là: Độ kiềm  từ 90 - 130 mg/l đối với tôm sú và 100 - 150 mg/l đối với tôm chân trắng; độ pH thích hợp cho tôm nuôi phát triển là 7,5 - 8,5 và biến thiên pH trong ngày không quá 0,5; hàm lượng nitrite phải <0,05 mg/l.

- Đối với các hộ nuôi tôm – lúa phải kết thúc vụ nuôi, ngắt vụ tôm để trồng lúa đảm bảo cơ cấu sản xuất, tính bền vững.

Đối với các hộ nuôi cá lồng bè:

Sau đợt triều cường, do ảnh hưởng của việc xã lũ từ thượng nguồn và từ nội đồng nên nước ngọt từ trong đất liền đổ ra biển với số lượng rất lớn mang theo nhiều phù sa, chất thải làm biến động đột ngột một số chỉ tiêu chất lượng nước của các khu vực nuôi cá lồng bè, nhuyễn thể 2 mảnh vỏ ven biển, ven đảo: độ mặn, độ trong, hàm lượng oxy hòa tan giảm mạnh trong khi hàm lượng amonia, nitrite, phosphate và mật độ các loại vi khuẩn có khả năng tăng cao làm cá bị sốc, suy giảm sức đề kháng dẫn đến nguy cơ bùng phát dịch bệnh, thiệt hại do sốc môi trường rất cao. Do đó, để chủ động trong công tác phòng, chống dịch bênh trên cá nuôi lồng bè, hạn chế thiệt hại trong mùa mưa - lũ, Chi cục Chăn nuôi và Thú y hướng dẫn biện pháp như sau:

- Phòng Nông nghiệp và PTNT/Phòng Kinh tế các huyện, thị xã có nuôi cá lồng bè trên biển chủ động nắm bắt tình hình nước lũ có khả năng di chuyển ra xa bờ ảnh hưởng đến hải sản nuôi để cảnh báo, khuyến cáo người nuôi chủ động ứng phó kịp thời, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng, thiệt hại.

- Các địa phương có quy hoạch nuôi cá lồng bè ven biển, đảo cần thực hiện đúng quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt về vị trí đặt lồng, số lượng lồng, bảo vệ môi trường khu vực nuôi,...

- Hướng dẫn người nuôi phải giám sát chặt chẽ tình hình môi trường nước vùng nuôi, thường xuyên theo dõi sức khỏe của cá, phân công người trực canh bè 24/24 giờ để kịp thời phát hiện các hiện tượng bất thường của môi trường nước và đưa ra giải pháp ừng phó thích hợp nhằm hạn chế thiệt hại.

- Các hộ nuôi cá ở khu vực Bãi Nam, xã Hòn Nghệ cần lưu ý phòng, trị những bệnh do vi khuẩn Vibrio spp gây ra do mật độ hiện diện cao.

- Hướng dẫn người nuôi tập trung thực hiện tốt quy trình phòng bệnh tổng hợp đã được cơ quan chuyên môn hướng dẫn, tập huấn:

+ Chọn con giống có nguồn gốc rõ ràng, đã được kiểm dịch, kích cỡ đồng đều, cá khỏe mạnh, không bị sây sất. Thức ăn là cá mồi thì phải tươi, rửa cá bằng nước ngọt 2-3 lần trước khi cho cá ăn để loại bỏ các mầm bệnh. Nên sử dụng thức ăn viên dành cho cá để thuận tiện cho việc bổ sung vitamin, khoáng vi lượng để nâng cao sức đề kháng cho cá.

+ Thường xuyên vệ sinh lưới lồng, vùng nuôi để loại bỏ các chất thải, sinh vật bám, tăng lưu lượng trao đổi nước và giảm mật độ vi khuẩn trong lồng;

+ Định kỳ 5-7 ngày tắm cá bằng nước ngọt hoặc nước ngọt có pha formol với nồng độ 200ppm trong thời gian 20 - 30 phút có sục khí liên tục để phòng các bệnh do ký sinh trùng, vi khuẩn cho cá. Thao tác nhẹ nhàng, hạn chế gây ra các sây sát do tác động cơ học;

- Để điều trị các bệnh do nhóm ký sinh trùng đơn bào gây ra sử dụng biện pháp treo các túi vải có chứa sulfat đồng với liều lượng CuSO4.5H2O là 50g/10 m3 lồng, thay túi 2-3 ngày/lần hoặc tắm cá với liều 0,3-0,5ppm trong 30 phút.

- Để điều trị bệnh lở loét, xuất huyết do vi khuẩn Vibrio spp gây ra người nuôi nên tách riêng cá bệnh và trị bệnh cho cá bằng cách trộn một trong các loại kháng sinh Doxycyline, Erythromycin, Florfenicol vào thức ăn với liều lượng 2 - 5g/kg thức ăn, cho ăn liên tục trong 5-7 ngày.

+ Khi phát hiện cá nuôi bị bệnh, chết hay môi trường nước của vùng nuôi có hiện tượng bất thường nên báo ngay cho UBND xã, Trạm chăn nuôi và Thú y địa phương để được hướng dẫn các biện pháp ứng phó kịp thời nhằm hạn chế thấp nhất ảnh hưởng, thiệt hại.

* Lưu ý: những ngày tới nước lớn sẽ kéo dài từ ngày 29/10/2018 đến ngày 31/10/2018, mực nước cao nhất là 1,2 m, xuất hiện từ 04 giờ 40 phút đến 09 giờ 00 phút tùy theo ngày và từng vùng nuôi. Người nuôi tôm có thể chủ động lấy nước vào ao lắng, xử lý trước khi cấp nước mới vào ao nuôi tôm.

Trên đây là kết quả quan trắc môi trường đợt 21 - 2018, Chi cục Chăn nuôi và Thú y đề nghị các đơn vị liên quan có biện pháp phù hợp hỗ trợ thông báo, thông tin rộng đến các hộ nuôi tôm, cá biết để có biện pháp xử lý thích hợp, chủ động trong sản xuất.

Cần trao đổi thêm thông tin liên hệ Phòng Quản lý dịch bệnh - Chi cục Chăn nuôi và Thú y, điện thoại 0297.800.115.

(Ghi chú: Quan trắc đợt 22 sẽ thực hiện vào ngày 07/11/2018).

Xem file đính kèm.